Việt Nam - Campuchia ký văn kiện pháp lý phân giới cắm mốc biên giới (Ảnh: ST)

1.   Lịch sử vấn đề
Là hai quốc gia láng giềng có lịch sử quan hệ từ lâu đời, Việt Nam và Campuchia có chung đường biên giới trên đất liền dài 1.137 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam và 9 tỉnh biên giới của Campuchia. Trải qua các triều đại phong kiến, giữa Việt Nam và Campuchia đã hình thành biên giới lịch sử nhưng chỉ là những ranh giới vùng - miền. Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước bao gồm 2 phần: Đoạn biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia được hoạch định bởi Thoả ước Pháp - Campuchia năm 1870 và Công ước Pháp - Campuchia năm 1873, đã được phân giới cắm mốc là đường biên giới quốc tế nhưng đến nay còn rất ít dấu tích trên thực địa. Đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia không có văn bản xác định đường biên giới, chỉ có nghị định xác định ranh giới hành chính các tỉnh Trung Kỳ, chưa được phân giới cắm mốc. Hai phần biên giới trên đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau.
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, tranh chấp biên giới cả trên biển và trên bộ thường xuyên diễn ra giữa chính quyền Sài Gòn và Campuchia. Trong các năm từ 1964 đến 1967, khi Campuchia công bố trung lập, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ra tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên giới hiện tại. Trong các năm 1964, 1966, 1975 và 1976, hai bên đã xúc tiến một số cuộc đàm phán, thương lượng về biên giới nhưng không đạt được thoả thuận.
Sau khi Nhà nước Cộng hoà nhân dân Campuchia ra đời, ngày 18/02/1979, Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà nhân dân Campuchia đã ký Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, tại Điều 4 đã thoả thuận “tiến hành đàm phán để đi đến ký kết một hiệp định hoạch định biên giới giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại và kiên quyết sẽ cùng nhau xây dựng đường biên giới đó thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài”. Ngày 20/7/1983, hai bên ký Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia, trong đó đã thống nhất áp dụng 02 nguyên tắc: (1) Trên đất liền, hai bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biên giới quốc gia giữa hai nước; (2) Ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý thì hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Để có cơ sở duy trì quản lý, tạo sự ổn định trên biên giới trong khi giữa hai nước chưa có một đường biên giới chính thức, rõ ràng trên thực địa, cùng ngày 20/7/1983, hai bên ký Hiệp định về Quy chế biên giới Việt Nam - Campuchia. Điều 1 ghi “Cho đến khi được hoạch định chính thức, biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia là đường biên giới hiện tại, được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất như quy định ở Điều 1 Hiệp ước nguyên tắc năm 1983”. Về sông suối, Điều 8 quy định “ở những nơi sông, suối, kênh, rạch thuộc một bên do đường biên giới đi về một phía bờ, những người dân khu vực biên giới bên kia vẫn được dùng nước các sông, suối, kênh, rạch đó vào sinh hoạt hằng ngày, tàu thuyền được đi lại bình thường, nhưng không được đánh bắt cá, tôm ... việc xây dựng công trình thuỷ lợi vừa và lớn trên sông, suối, kênh, rạch biên giới phải do chính quyền cấp tỉnh hai bên bàn bạc và báo cáo lên Chính phủ hai bên quyết định”.
Theo nguyên tắc đã thoả thuận trong Hiệp ước năm 1983, ngày 27/12/1985, hai bên tiến hành đàm phán và ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia. Hiệp ước này đã được Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam phê chuẩn ngày 30/01/1986 và Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Campuchia phê chuẩn ngày 07/02/1986. Ngày 22/02/1986, tại Hà Nội, hai bên đã trao đổi văn kiện phê chuẩn và Hiệp ước có hiệu lực kể từ ngày đó.
Theo Điều 1 Hiệp ước 1985, đường biên giới quốc gia trên đất liền giữa hai nước được mô tả chi tiết theo bản đồ UTM của quân đội Mỹ tỷ lệ 1/50.000 (đường biên giới đã hoạch định được chuyển từ bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 sang). Hai bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước (bản đồ Bonne và UTM) đều có giá trị như nhau. Hiệp ước cũng quy định các vấn đề liên quan đến sông, suối, kênh rạch biên giới: Các sông suối biên giới dù có đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên; những cù lao, bãi bồi dọc sông, suối biên giới ở phía bên nào sẽ thuộc bên đó; đối với các cầu biên giới, đường biên giới đi chính giữa cầu.
Như vậy, Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 đã thể hiện rõ lập trường của hai nước tôn trọng đường biên giới hiện tại, căn cứ vào các bản đồ do chính quyền thực dân xuất bản và sử dụng bản đồ UTM của quân đội Mỹ để thuận tiện cho việc phân giới cắm mốc. Hiệp ước đã hoạch định hầu hết đường biên giới chỉ còn một số điểm hai bên đồng ý sẽ giải quyết trên thực địa.
Sau khi Hiệp ước 1985 có hiệu lực, hai bên đã tiến hành phân giới được hơn 200 km trong tổng số 1.137 km đường biên và cắm được 72 mốc trong tổng số 322 mốc dự kiến. Năm 1989, do những lý do nội bộ Campuchia, công việc phân giới cắm mốc phải tạm dừng[1].
Năm 2005, hai nước có nhu cầu ký một Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 nhằm ghi nhận một số điều chỉnh đáp ứng tình hình mới và khởi động lại phân giới cắm mốc. Những lý do cần ký một hiệp định bổ sung bao gồm rà soát chuyển vẽ, thành lập bản đồ mới, điều chỉnh một số khu vực theo quản lý thực tế, hay thay đổi nguyên tắc sông suối.
Trước hết, việc áp dụng nguyên tắc bản đồ là một quyết định đúng đắn của hai nước, song khi lựa chọn và áp dụng bản đồ, hai bên phải chấp nhận trên thực tế những hạn chế: Bản đồ Bonne xuất bản rải rác trong nhiều năm khác nhau từ 1951 đến 1954; nội dung và chất lượng bản đồ chưa hoàn thiện[2]; tỷ lệ của bản đồ quá nhỏ (1/100.000), được in ấn từ những năm 50 thế kỷ trước nên không còn phù hợp với thực địa thay đổi theo thời gian. Hơn nữa, việc ghi nhận 02 bộ bản đồ có giá trị như nhau trong phân giới cắm mốc dẫn đến những phức tạp trên thực địa khi có sự khác biệt giữa bản đồ với bản đồ, giữa bản đồ với thực địa, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long do hậu quả của lũ lụt thường xuyên. Hai nước cần rà soát chuyển đổi thống nhất không còn các chỗ bỏ trắng và thỏa thuận xây dựng một bản đồ mới thể hiện đường phân giới cắm mốc.  
Thứ hai, về sông suối biên giới, theo luật pháp và thực tiễn nhiều nước trên thế giới, biên giới thường đi theo luồng rãnh sâu (thalweg) đối với sông suối tàu thuyền đi lại được và theo trung tuyến dòng chảy chính đối với sông suối tàu thuyền không đi lại được. Khi đàm phán Hiệp ước 1985, Việt Nam đã đề nghị áp dụng như trên, nhưng Campuchia đề nghị Pháp vẽ như thế nào cứ giữ nguyên. Điều này dẫn đến thực tế là có những khúc sông hoàn toàn do Việt Nam quản lý, có những khúc sông hoàn toàn do Campuchia quản lý, dẫn đến những tranh cãi cục bộ về sử dụng nguồn nước giữa nhân dân địa phương hai nước. Sau 20 năm quản lý sử dụng sông suối biên giới, phía Campuchia thấy việc quy định biên giới chạy trên một bờ sông là bất tiện trong quản lý và sử dụng nguồn nước của nhân dân hai bên. Do vậy, Campuchia đã thừa nhận đề nghị trước kia của Việt Nam là hợp lý và mong muốn điều chỉnh biên giới sông suối theo luật pháp và thực tiễn quốc tế. Việc điều chỉnh này cũng phù hợp với nguyên tắc khác của luật quốc tế là cùng chia sẻ nguồn nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nhất là khi Việt Nam và Campuchia đều là thành viên của Uỷ ban sông Mê Công. Việt Nam cũng đã cùng với Lào và Trung Quốc giải quyết sông suối biên giới theo nguyên tắc thalweg hoặc trung tuyến.
Thứ ba, hai bên đều có nhu cầu tiếp tục khẳng định giá trị của Hiệp ước 1985 trước những luận điệu chia rẽ đoàn kết giữa hai dân tộc của các thế lực thù địch đòi xóa bỏ các Hiệp ước, Hiệp định biên giới Việt Nam - Campuchia đã ký trong những năm 80 của thế kỷ trước.
Thứ tư, hai bên đều có mục tiêu chung khởi động lại công tác phân giới cắm mốc, xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển giữa hai nước.  
Ngày 10/10/2005, tại Hà Nội,Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 được ký.
Hiệp ước bổ sung năm 2005 khẳng định giá trị của Hiệp ước năm 1985, coi Hiệp ước này chỉ là Hiệp ước bổ sung của Hiệp ước năm 1985, Điều III mục 4 và Điều IV mục 1 khẳng định quyết tâm của hai bên “sớm kết thúc tiến trình phân giới và cắm mốc” và quy định hai bên thông qua kế hoạch tổng thể về phân giới cắm mốc trước cuối năm 2005, phấn đấu hoàn thành phân giới cắm mốc trước tháng 12 năm 2008. Hai bên thống nhất áp dụng các nguyên tắc và thực tiễn quốc tế về biên giới theo sông suối để hoạch định đường biên giới sông suối trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước:
- Đối với những đoạn sông suối biên giới tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính.
- Đối với những đoạn sông suối biên giới tàu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của luồng chính tàu thuyền đi lại được.
Để bảo vệ quyền lợi và sự ổn định của nhân dân hai bên sông, tránh các thay đổi lớn nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, hai bên đã thống nhất ghi vào Hiệp ước bổ sung “Trong trường hợp nảy sinh khó khăn trong việc áp dụng các quy định nêu trên, hai Bên sẽ trao đổi hữu nghị nhằm tìm ra một giải pháp mà hai Bên có thể chấp nhận được”.
Hai bên đồng ý giải quyết 6 điểm mới thoả thuận tạm thời trong Hiệp ước năm 1985. Ba khu vực[3] rừng rậm, núi cao, không thể hiện địa hình và tiếp biên không khớp trên bản đồ Bonne đính kèm Hiệp ước năm 1985; không có dân sinh sống ở 2 bên đường biên giới, đều là các khu vực bỏ trắng. Sau khi khảo sát thực địa, hai bên đã thống nhất điều chỉnh biên giới trong các khu vực này căn cứ vào các yếu tố địa hình. Ba khu vực khác giữa tỉnh An Giang và tỉnh Kần-đan, lâu nay hoặc do Việt Nam hoặc do Campuchia quản lý, nhưng lại chưa được thể hiện trên bản đồ Hiệp ước năm 1985. Hai bên đồng ý điều chỉnh cho phù hợp với thực tế quản lý.
Hiệp ước bổ sung năm 2005 đã đáp ứng mối quan tâm cũng như lợi ích chung của cả hai nước, tiếp tục nâng quan hệ Việt Nam - Campuchia lên một tầm cao mới, thể hiện phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.” Hiệp ước đã mở đường cho quá trình phân giới cắm mốc (PGCM) tiến tới có một đường biên giới ổn định lâu dài, phù hợp với luật quốc tế.
2.              Phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam-Campuchia
Thực hiện Điều 4 Hiệp ước bổ sung năm 2005, hai bên đã thành lập Ủy ban liên hợp (UBLH) PGCM biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia (UBLH PGCM). Chủ tịch UBLH phía Campuchia là Bộ trưởng cao cấp Var Kim Hong, Chủ tịch Ủy ban biên giới quốc gia. Phía Việt Nam là cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban biên giới. Nhiệm vụ cụ thể của UBLH PGCM là: "phụ trách tổ chức thực hiện công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia; đồng thời căn cứ Hiệp ước hoạch định năm 1985 và Hiệp ước bổ sung cùng bản đồ đính kèm Hiệp ước hoạch định năm 1985 và phụ lục Hiệp ước bổ sung năm 2005 xác định trên thực địa hướng đi của đường biên giới từ điểm ngã ba biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam, Vương quốc Campuchia và nước CHDCND Lào đến điểm mút đường biên giới trên bờ biển tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang (Việt Nam) và Kampot (Campuchia)"[4].
Dưới UBLH PGCM có các cơ chế giúp việc: Tiểu ban Kỹ thuật liên hợp; Nhóm Chuyên gia kỹ thuật liên hợp; Tổ Nội nghiệp; Tổ chuyên gia kỹ thuật GPS; Nhóm Công tác đặc biệt. Hai Bên tổ chức các Đội phân giới cắm mốc hoạt động trên thực địa. Do khó khăn tài chính   Campuchia có 07 Đội cho 9 tỉnh; Việt Nam có 11 Đội cho 10 tỉnh. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ PGCM. Với các khó khăn về tổ chức, bản đồ, rà soát chuyển vẽ, xây dựng các mốc trong vùng ngập lụt, yêu cầu cắm thêm mốc phụ tăng dày từ phía Campuchia nên thời hạn hoàn thành PGCM phải điều chỉnh. Ngày 27/9/2006, hai bên đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành cột mốc số 171 tại cặp cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (Tây Ninh) - Bavet (Svay Rieng) với sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ hai nước. Đây là cột mốc đầu tiên được xây dựng, chính thức khởi động lại tiến trình PGCM, sau thời gian tạm dừng từ năm 1989.
Từ năm 2006 đến nay, UBLH hai nước đã hoàn thành:
- Thống nhất rà soát chuyển vẽ khoảng 90% tổng chiều dài đường biên giới (khoảng 1042/1.137 km) từ bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 sang bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 để phục vụ PGCM.
- Xác định và xây dựng 315/371 cột mốc chính, trong đó có: cột mốc ở ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia, cột mốc có số hiệu cuối cùng 314 trên đường biên giới đất liền, các cột mốc đại có gắn quốc huy ở 10/10 cặp cửa khẩu quốc tế, các cột mốc ở hầu hết các cửa khẩu chính, ở nơi có đường giao thông lớn qua lại biên giới, khu vực đông dân cư....
- Xây dựng được 1511/1512 cột mốc phụ và 221 cọc dấu bổ sung giữa các cột mốc chính ở những nơi đã phân giới xong để làm rõ thêm hướng đi của đường biên giới (theo yêu cầu của phía Campuchia).
- Hoàn thiện hồ sơ ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc tới tháng 12/2018 gồm: (i) Biên bản cắm mốc; (ii) Bảng đăng ký cột mốc; (iii) Bảng tọa độ độ cao cột mốc; (iv) Bảng quy thuộc cồn bãi trên sông suối biên giới và (v) Biên bản mô tả hướng đi của đường biên giới.
- Phối hợp cùng thuê bên thứ ba (Công ty Blom Infor A/S của Đan Mạch) thành lập bộ bản đồ địa hình biên giới mới tỷ lệ 1/25.000 để đính kèm Nghị định thư ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc. Với Lào và Trung Quốc, Việt Nam cùng bên liên quan xây dựng bản đồ địa hình biên giới chung. Theo yêu cầu của Campuchia, Việt Nam sẵn sàng mời bên thứ ba để bảo đảm khách quan, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc chống phá.
- Trao đổi xây dựng các văn kiện pháp lý “Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia” và “Nghị định thư PGCM biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia”, ghi nhận thành quả 84% phân giới cắm mốc đã đạt được[5].
 
Trong quá trình PGCM, hai bên đã nghiêm chỉnh xác định và cắm mốc theo đúng hướng đi của đường biên giới đã được rà soát chuyển vẽ theo Hiệp ước bổ sung năm 2005. Tại thực địa, do đường biên giới chưa được xác định tồn tại gần trăm năm nên có những nơi người dân và chính quyền hai bên đã quản lý quá đường biên trên bản đồ, như ruộng Việt Nam canh tác về phía Campuchia hay chùa Campuchia, làng Chủ tịch Heeng Xom Rin quá sang đất Việt Nam. Nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phân giới cắm mốc và giữ nguyên hiện trạng quản lý, đất đai ruộng vườn của người dân đã và đang tăng gia sản xuất từ lâu đời, cũng như tạo thuận lợi cho việc sinh sống của cư dân dọc biên giới hai nước, trên cơ sở kinh nghiệm giải quyết biên giới với các nước láng giềng, ngày 23/4/2011, nhân dịp chuyến thăm Campuchia của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, đại diện Chính phủ hai nước đã ký “Bản ghi nhớ về việc điều chỉnh đường biên giới trên bộ đối với một số khu vực tồn đọng giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia”. Việc hoán đổi đất theo Bản ghi nhớ trên cơ sở công bằng diện tích và lợi ích đã khai thông bế tắc trong quá trình phân giới cắm mốc giữa hai nước. Giải pháp này cho phép giữ nguyên đường quản lý thực tế ở một số khu vực, điều chỉnh ở những khu vực khác với diện tích tương đương, góp phần bảo đảm ổn định đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân biên giới, đáp ứng nguyện vọng chung của người dân và chính quyền địa phương hai bên, được người dân hai bên đồng tình, ủng hộ.
   Trong quá trình hợp tác, Việt Nam đã giúp đỡ và đáp ứng yêu cầu của phía Campuchia một cách vô tư, khách quan nhất, không để các thế lực phản động lợi dụng. Việt Nam giúp Campuchia in mới 05 bộ 40 mảnh bản đồ nền UTM tỷ lệ 1/50.000 phục vụ công tác rà soát[6], yêu cầu mời bên thứ ba làm bản đồ biên giới trong khi PGCM biên giới Việt-Lào, Việt-Trung đều trên cơ sở bản đồ địa hình hai nước cùng làm. Việt Nam cùng đồng ý quản lý đường biên giới tiếp tục được thực hiện theo Thông cáo báo chí Việt Nam - Campuchia ký ngày 17/01/1995; nếu có sự khác biệt về giải thích và thực hiện Hiệp ước bổ sung năm 2005, hai bên sẽ giải quyết bằng các biện pháp hòa bình thông qua thảo luận và đàm phán. Việt Nam cũng chủ động tạm thời điều chỉnh đường biên giới cũ của Pháp chạy dọc bờ sông Campuchia sang giữa dòng để nhân dân hai bờ có quyền tiếp xúc với nguồn nước.
Việc ký tiếp Hiệp ước bổ sung 2019 cho Hiệp ước bổ sung 2005 và Nghị định thư phân giới cắm mốc 2019 không được nêu trong hai văn kiện. Tuy nhiên, có thể thấy quá trình phân giới cắm mốc chiếm thời gian lớn nên sau 14 năm tiến hành, hai nước hoàn toàn có thể đưa phần biên giới đã được giải quyết vào cuộc sống và tạo đà giải quyết những tồn đọng còn lại.
3.    Ý nghĩa của việc ký kết 2 văn kiện biên giới mới
“Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia” và “Nghị định thư PGCM biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia” là hai điều ước quốc tế chính thức giải quyết 84% đường biên giới giữa hai nước. Hai văn kiện này sẽ được lưu chiểu tại Liên hợp quốc để bảo đảm quyền lợi của các bên theo quy định. Hai văn kiện thể hiện nguyện vọng và ý chí của hai nước, hai dân tộc thiết lập một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác bền vững giữa hai nước. Lần đầu tiên hai nước có một đường biên giới quốc tế cơ bản hoàn chỉnh, được đánh dấu bằng các cột mốc hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý và hợp tác phát triển.
Hai văn kiện này khẳng định giá trị của các Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005, thể hiện tính nhất quán của hai nước trong giải quyết hòa bình các tranh chấp biên giới, lãnh thổ, đập tan các luận điệu của các thế lực phản động về tình hình biên giới. Phát biểu tại lễ ký, Thủ tướng Hun xen cho rằng: “Thành tựu to lớn trong công tác phân giới, cắm mốc mà hai nước đạt được xuất phát từ sự nỗ lực trong việc tìm kiếm giải pháp chung dựa trên tình hữu nghị, tình nghĩa anh em, sự cảm thông lẫn nhau và là người bạn mấy chục năm qua”[7].
Hai văn kiện đã góp phần đưa chủ trương biến biên giới thành thương giới, góp phần tạo thuận lợi cho phát triển giao lưu thương mại hai nước. Đến hết 2019, Việt Nam đã có 214 dự án đăng ký đầu tư sang Campuchia, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 3,074 tỉ USD. 176 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 2,77 tỉ USD, nằm trong 5 nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất tại Campuchia. Campuchia có 21 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 64 triệu USD, đứng thứ 54 trong 132 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai nước năm 2018 đạt khoảng  4,704 tỉ USD, tăng 23,8% so với năm 2017 và trên 5 tỷ USD trong năm 2019[8].
Hai văn kiện được ký đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm quân tình nguyện Việt Nam về nước sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đánh đuổi Khme Đỏ, cứu người dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Hai văn kiện khẳng định thành quả máu xương và tình hữu nghị giữa hai dân tộc vì một đường biên giới vĩnh cửu.
Hai văn kiện này tạo điều kiện cho hai nước tiếp tục hợp tác giải quyết nốt 16% tồn đọng,   gồm 6 khu vực chưa hoàn thành hoán đổi đất theo mô hình MOU - biên bản ghi nhớ về điều chỉnh biên giới đường bộ tồn đọng hai nước ký năm 2011 (5 khu vực tại Long An - Svay Riêng và 1 khu vực tại Gia Lai, Đắk Lắk - Rattanakiri, Mondulkiri); và 7 đoạn biên giới chưa phân giới, cắm mốc tại các cặp tỉnh Gia Lai - Rattanakiri; Đắk Nông - Mondulkiri; Tây Ninh - Svay Rieng; An Giang - Kandal; Kiên Giang - Kampot “trên cơ sở sự hiểu biết lẫn nhau, tình cảm, trách nhiệm giữa hai đất nước, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế có liên quan được ký kết giữa hai nước”[9]. Việc hoàn thành tồn đọng trong thời gian tới sẽ đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á có một đường biên giới đất liền hoàn chỉnh đăng ký tại Liên hợp quốc, chấm dứt các mầm mồng xung đột chiến tranh vì biên giới do lịch sử để lại./.
 
Tài liệu tham khảo
 
1.   Ban TTVH và Ban Biên giới – Bộ Ngoại giao, Hỏi đáp về các văn bản pháp lý phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam-Cămpuchia, Nxb. Chính trị quốc gia 2007.
2.   Nguyễn Hồng Thao, “Các khía cạnh pháp lý của Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam – Campuchia năm 1985”, Nhà nước và Pháp luật 8 (220)/2006, tr.65-70.
3.   Nguyễn Hồng Thao, “Năm 2011 – Năm bản lề của công tác PGCM biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia”, Tạp chí Khoa học và Chiến lược số 1 (1/2011) tr. 48-52.
4.   Ramses A. &, Nguyễn Hồng Thao, “Managing Vietnam’s border disputes”, International Studies, Institute for International relations N. 17 December 2005, p. 26-38.
5.   Ramses A. &, Nguyễn Hồng Thao, “Vietnam’s Border Disputes – Assessing the Impact on Its Regional Integration”, Vietnam’s new order International Perspectives on the State and Reform in Vietnam, Edited by Stephanie Balme and Mark Sidel, Palgrave 2007, p. 71-88.
6.   Ramses A. &, Nguyễn Hồng Thao, “The Challenge of the Border Disputes of Cambodia, Laos, and Vietnam and Regional Conflict Management”, Society for South-East Asian Studies (SEAS), The Austrian Journal of South-East Asian Studies / Österreichische Zeitschrift für Südostasienwissenschaften (ASEAS) 9/2009.

 


[1] Ban TTVH và Ban Biên giới – Bộ Ngoại giao, Hỏi đáp về các văn bản pháp lý phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam-Cămpuchia, Nxb. Chính trị quốc gia 2007. Ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao, “Biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia”, Hà Nội 2019.
[2] Có nhiều mảnh xuất bản tạm thời, một số mảnh bỏ trắng địa hình, đường biên giới giữa một số mảnh bị đứt đoạn.
[3] Khu vực 1 thuộc tỉnh Kon Tum giáp với tỉnh Ra-ta-na-ki-ri, khu vực 2 thuộc tỉnh Gia Lai giáp với tỉnh Ra-ta-na-ki-ri, khu vực 3 thuộc tỉnh Đắc Lắc giáp với tỉnh Môn-đun-ki-ri.
[4] Khoản 1, Điều 2 Điều lệ Ủy ban liên hợp PGCM, ký ngày 22/12/2005.
[5] Ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao, “Biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia”, Hà Nội 2019.
 
 [6] Ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao, “Biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia”, Hà Nội 2019.
[8] Việt Nam 'rót' vào Campuchia trên 3 tỉ USD, trong tốp 5 nước đầu tư lớn nhất, Tuổi Trẻ Việt Nam 6/12/2019, https://tuoitre.vn/viet-nam-rot-vao-campuchia-tren-3-ti-usd-trong-top-5-nuoc-dau-tu-lon-nhat-20191206183700024.htm.
[9] Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại lễ ký ngày 5/10/2019.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (402+403), tháng 2/2020.)