Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần th  |   Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2017-2020  |   Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong điều kiện m  |   Những điểm mới cơ bản của Nghị quyết  |   Kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016  |   Nghị quyết TƯ 5 về hoàn thiện thể chế KT thị trường định hướng XHCN  |   Người lính cận vệ già và ký ức không thể quên về Bác ở ATK  |   Yêu cầu thực hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước  |   Top 10 trường đại học đáng học nhất tại Việt Nam năm 2017  |   Hồ Chí Minh - Nhà chiến lược quân sự thiên tài  |  
Trang chủ
Giới thiệu chung
Các Bộ môn
Bản tin
Thời sự
- - - - - - - - - - - - - - - - - - -
Kết quả học tập
Kế hoạch học tập
Giáo trình - Bài giảng
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại học Mỏ - Địa chất
Mạng Giáo dục - EduNet
Vụ Đại học - Sau đại học
Bộ Giáo dục & Đào tạo
Đặc điểm lý thuyết đổi mới và những bài học lớn từ thực tiễn gần 30 n In E-mail
Wednesday, 21 January 2015
Đặc điểm lý thuyết đổi mới và những bài học lớn từ thực tiễn gần 30 năm đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
TCCS - Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã tiến những bước dài quan trọng có ý nghĩa lịch sử trong toàn bộ sự phát triển của đất nước, dưới ngọn cờ của Đảng. Dù lịch sử dân tộc chưa đi nhanh như chúng ta mong đợi, nhưng không ai không thấy, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đất nước đang vững vàng tiếp tục tiến lên phía trước trên con đường xã hội chủ nghĩa một cách tất yếu.

Trên bình diện quốc tế, thành tựu gần 30 năm đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có thể nói, mang ý nghĩa quan trọng. Dư luận quốc tế ghi nhận: “Thắng lợi của... đổi mới ở Việt Nam có ý nghĩa quốc tế, có tầm quan trọng lịch sử ở mức độ góp phần quyết định tương lai của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới..., mở ra triển vọng khắc phục các cuộc khủng hoảng, thúc đẩy sự hình thành một trật tự thế giới mới công bằng hơn”(1). “Những nhiệm vụ mà các đồng chí đề ra là rất nặng nề, nhưng Việt Nam chắc chắn sẽ vượt qua được mọi khó khăn và sẽ chứng minh cho cả thế giới thấy rằng chủ nghĩa xã hội là một khả năng thực tế, rằng những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin nếu biết áp dụng phù hợp vào thực tế của mỗi dân tộc thì vẫn có giá trị, rằng tư tưởng Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa, trông rộng vẫn còn nguyên giá trị và việc tồn tại của một Đảng Cộng sản như một chính đảng lãnh đạo xã hội là phương thức duy nhất có khả năng duy trì những thành quả của cách mạng, duy trì nền độc lập, chủ quyền và tự do...”(2).

Một trong những nguồn gốc của những thành tựu ấy, chính là Đảng ta xây dựng cho mình một lý thuyết đổi mới khoa học, cách mạng và phù hợp. Và đồng thời, qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta kết tinh và phát triển những kinh nghiệm lịch sử vô giá, để đất nước vững tin tiếp tục cuộc hành trình tất yếu trên con đường xã hội chủ nghĩa. 

Lý thuyết đổi mới xã hội chủ nghĩa - một đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay

Nguồn gốc quyết định tất cả những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, là lý thuyết đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để góp phần nhìn lại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ba thập niên vừa qua, ở đây, bước đầu có thể rút ra một số đặc điểm của lý thuyết đổi mới, dưới góc nhìn lịch sử và lô-gíc.

1- Lý thuyết tự giải phóng

Qua gần 30 năm, nếu tự đặt mình vào những buổi đầu từ khi bắt tay vào công cuộc đổi mới “... Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đường đổi mới chưa có một khuôn mẫu cho trước...” cho tới lúc “...kết quả đạt được xác nhận khả năng tự đổi mới của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam” sau đó 15 năm, thì mới có thể thấy hết được ý nghĩa của vấn đề giải phóng và tự giải phóng vào thời điểm phức tạp, cam go có tính chất bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trước hết, lý thuyết đổi mới là sự kế thừa lịch sử dân tộc, đồng thời cũng chính là sự giải phóng khỏi những “vết mòn” lịch sử qua các cuộc canh tân, cải cách đất nước trước đây, nhưng với một nhãn quan mới, ở một tầm cao mới, với chất lượng mới, phù hợp với thời đại mới.

Nếu chỉ xét lịch sử đất nước trong vòng năm thế kỷ trở lại đây thì đã có hàng loạt lý thuyết bàn định về sự cải cách, canh tân, khát vọng đưa dân tộc tiến lên. Đó là những cuộc cải cách của Hồ Quý Ly (thế kỷ XV), của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch (thế kỷ XIX) và những dự án canh tân của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các chí sĩ yêu nước (đầu thế kỷ XX)... Nhưng tất cả những lý thuyết, dự án về các cuộc cải cách, canh tân ấy đều thất bại vì chủ quan, khiếm khuyết do hoặc duy chỉ hướng nội hoặc duy chỉ hướng ngoại hoặc bị cản trở bởi sự hẹp hòi của nhãn quan phong kiến chật hẹp và khuôn khổ trói buộc của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến; tức là thiếu những điều kiện bảo đảm cần và đủ về tiền đề vật chất và tinh thần cho lý thuyết cải cách, canh tân thành công.

Vượt qua những khiếm khuyết đó, với trọng tâm là giữ vững tư duy độc lập và sáng tạo, kiên trì và vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta, rút kinh nghiệm mấy thập niên qua, lý thuyết đổi mới đã được xác lập. Đó là sự kết tinh những nhu cầu nội tại từ bên trong đất nước (đổi mới là vấn đề sống còn) đón gặp với xu thế phát triển (trên cơ sở không ngừng điều chỉnh) của thế giới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là một cuộc giải phóng mình khỏi những tư duy cũ, những hành động vừa nóng vội, chủ quan, vừa bảo thủ, trì trệ; từng bước thoát khỏi xiềng xích của chủ nghĩa giáo điều đã kiềm tỏa mấy chục năm qua; là trở lại nhận thức của chủ nghĩa xã hội một cách đúng đắn như nó cần phải có và từ đó lựa chọn phương cách tiến hành phù hợp và hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Người châu Á - tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại”(3).

Mặt khác, lý thuyết đổi mới chính là sự giải thoát khỏi những khuynh hướng giáo điều, bảo thủ, thực dụng và cơ hội đủ loại. Đảng ta khẳng định: đổi mới là vấn đề sống còn của đất nước, nhưng đồng thời thực tiễn lại cho thấy, nếu đổi mới chệch con đường xã hội chủ nghĩa thì vận mệnh của đất nước có khi không cứu vãn được. Vì vậy, đổi mới tất yếu phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư duy độc lập và sáng tạo của chúng ta phải đặt trên nền móng của sự nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn cách mạng nước ta, trông ra thế giới và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại. Điều cần chú ý là, bám sát được thực tiễn của đất nước và của thời đại trên cơ sở lập trường chính trị kiên định, không bảo thủ dừng lại và không dao động, ngả nghiêng trước thử thách mới. Rõ ràng, lý thuyết đổi mới hàm chứa những vấn đề đó trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách phù hợp, góp phần nhận thức đúng đắn và sâu sắc về chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là cuộc giải phóng có ý nghĩa cách mạng về mặt ý thức xã hộithông qua cuộc đổi mới về tư duy và cuộc giải phóng về phương diện lực lượng vật chất xã hội, mà trước hết làlực lượng sản xuất. Diễn đạt một cách khái quát rằng: “Đổi mới là thử nghiệm tìm ra mô hình phát triển phù hợp với tính cách riêng của Việt Nam, tức là sự tìm ra cho mình con đường tất yếu”(4).

Càng kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng xuất phát từ chính mình và thời đại, càng độc lập và sáng tạo, chúng ta càng nhiều cơ hội và khả năng tìm thấy con đường và phương pháp giải quyết thành công những vấn đề khó khăn, phức tạp. Đó là linh hồn và phương châm của cuộc giải phóng tư duy và hành động của chúng ta. 

2- Lý thuyết khẳng định mục tiêu, tạo dựng mô hình và vạch rõ con đường đi lên trên cơ sở khoa học và thực tế

Trước sự đổ vỡ một mảng lớn của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới và trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước, việc nhận thức mục tiêu, con đường đưa đất nước tiến lên và việc xác định đúng mô hình, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách, là trung tâm của lý thuyết đổi mới. Chúng ta tiếp tục khẳng định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng nước ta. Vấn đề này đã được nêu trong Chánh cương vắn tắt ngay từ năm 1930. Lý thuyết đổi mới thêm một lần nữa phân tích rõ tính tất yếu của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việc Đảng và Nhân dân ta kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội là nội dung rất cơ bản của công tác lý luận tư tưởng hiện nay, nhất là trong lúc không ít người cho rằng việc lựa chọn của ta là “nhầm”, là “vội”, thậm chí họ còn cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản, lôi kéo một số người dao động trước sự tan rã của các quốc gia xã hội chủ nghĩa hòng phủ nhận tương lai của chủ nghĩa xã hội thế giới.

Những quan niệm đúng đắn và phù hợp về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trên thực tế đã chứng tỏ sức sống của nó, tiếp tục đưa công cuộc đổi mới tiến lên. Đảng ta xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm sáu đặc trưng, rồi tám đặc trưng và con đường để thực hiện chính là bảy phương hướng cơ bản, rồi xử lý tám mối quan hệ lớn... Đặc biệt, ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, bên cạnh việc tuân theo những quy luật phổ biến của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta khéo áp dụng chúng, cân nhắc đặc điểm của dân tộc và đồng thời xác lập những hình thức, bước đi cụ thể để tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp. Đó là một trong những nét cơ bản nhất làm nên giá trị lịch sử của lý thuyết đổi mới.Đó chính là sự thể hiện phương pháp tư duy biện chứng mác-xít trong khi không được quên cái chung, phải nhận rõ cái đặc thù và đây chính là cơ sở của mọi sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta.

Thực tế qua gần 30 năm đổi mới, bước đầu đã khẳng định sức mạnh hiện hữu và tiềm tàng của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tính đúng đắn của con đường xã hội chủ nghĩa được lý thuyết đổi mới hoạch định. Dư luận quốc tế đánh giá: “Bất chấp những lời tuyên bố của chủ nghĩa đế quốc về “sự kết thúc của chủ nghĩa cộng sản” cách đây vài năm, ngày nay điều này càng rõ ràng là lý tưởng cộng sản vẫn rất sống động, vẫn có những nước như Việt Nam đang kiên trì đường hướng xã hội chủ nghĩa, có các lực lượng chính trị quan trọng trên tất cả các lục địa đang hướng tới việc xây dựng một xã hội mới không có người bóc lột người như là một mục đích thiết yếu của nền văn minh loài người”(5). 

Với tất cả sự nỗ lực của Đảng và nhân dân ta, sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một đóng góp vào việc thúc đẩy chủ nghĩa xã hội khoa học phát triển độc lập ở Việt Nam, đã góp phần bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(6). 

Đó chính là nét đặc sắc, là nguồn sức mạnh của lý thuyết đổi mới của chúng ta.

3- Lý thuyết ổn định và phát triển bền vững

Thực tiễn ngày càng chứng minh tính đúng đắn luận điểm cơ bản của lý thuyết đổi mới: phải giữ vững ổn định chính trị mới đổi mới xã hội được, ổn định chính trị trở thành một điều kiện tiên quyết của sự phát triển. Mặt khác, lý thuyết đổi mới cũng nhấn mạnh: phải tập trung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm..., xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị.

Như vậy, vấn đề ổn định chính trị là nét cơ bản làm nên chỉnh thể của lý thuyết đổi mới. Vấn đề này không chỉ đơn giản được rút ra từ bài học thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từ kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc, Cu-ba mà nhìn rộng hơn, đó là xu thế quốc tế hiện nay nói chung và đó là thực tiễn của công cuộc đổi mới ở nước ta nói riêng.

Sẽ là ảo tưởng trong việc tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nếu vấn đề ổn định chính trị không được coi trọng như là một điều kiện tiên quyết. Nhưng việc ổn định chính trị và đổi mới hệ thống chính trị sẽ hết sức khó khăn nếu thiếu sự bảo đảm bởi những tiền đề vật chất, với tư cách là nền tảng. Thoát ly sự tăng trưởng của kinh tế, đặt ra yêu cầu quá cao đối với việc phát triển xã hội là không thực tế, nhưng cũng hết sức sai lầm nếu chỉ coi trọng việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm giải quyết những vấn đề xã hội, bởi đó chính là một trong những nguồn gốc dẫn tới mất ổn định chính trị. Đổi mới, phát triển, ổn định có mối liên hệ nội tại không thể chia cắt. Phát triển là mục đích, mà mấu chốt để giải quyết mọi vấn đề của xã hội nước ta là phải dựa vào sự phát triển của chính mình, nắm bắt thời cơ, tự phát triển, trên cơ sở phát triển kinh tế thúc đẩy sự phát triển hài hòa, toàn diện của xã hội. Đó là yêu cầu khách quan để từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của xã hội nước ta ở giai đoạn hiện nay. Đổi mới là động lực to lớn thúc đẩy kinh tế và xã hội phát triển, là nhằm giải phóng và phát triển sức sản xuất, là biện pháp cơ bản để giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của xã hội, là sự tự hoàn thiện và phát triển của chủ nghĩa xã hội. Ổn định là tiền đề của phát triển và đổi mới; phát triển và đổi mới cần phải có môi trường chính trị và xã hội ổn định.

Lý thuyết đổi mới đã phân tích hết sức sâu sắc mối liên hệ biện chứng của vấn đề này; đồng thời cũng dự liệu những chướng ngại cản trở việc giải quyết chúng từ nội dung tới những phương pháp nhằm đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta tiếp tục tiến lên một cách đúng hướng và chắc chắn. 

Đó là nét đặc sắc rất cơ bản của lý thuyết đổi mới.

4- Lý thuyết nhân văn

Quan điểm về nhân tố con người, nguồn lực con người, hạnh phúc của con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước là nét nổi bật, là một nhân tố chiếm vị trí rất quan trọng trong cấu trúc của lý thuyết đổi mới. Chỉ có trong quá trình phấn đấu vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, con người mới được đặt ở vị trí trân trọng đến vậy. Chính điều này đã làm sâu sắc, phong phú và đậm đà chất nhân văn của lý thuyết đổi mới.

Con người là vốn quý nhất, mọi của cải vật chất, mọi giá trị tinh thần đều do con người sáng tạo ra. Con người vừa là động lực, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng. Chăm lo cho hạnh phúc, cho con người là mục tiêu cao cả, là nhiệm vụ trung tâm, trọng đại của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Đây là vấn đề hoàn toàn phù hợp với xu thế tiến bộ xã hội của thế giới trong thế kỷ XXI.

Phát triển nhân tố con người thực chất là khai thác mọi tiềm năng của con người, nó vừa là mục tiêu cuối cùng,vừa là động lực cơ bản để phát triển kinh tế và xã hội. Sự phát triển cá nhân của mỗi con người phải gắn chặt với sự phát triển của xã hội mới. Đến lượt mình, chế độ và xã hội cần tạo điều kiện và môi trường cho sự phát triển con người, trước hết là ưu tiên phát triển thể chất và tinh thần. Từng con người được tạo điều kiện phát triển tức là tiếp tục nhận thức chân giá trị của bản thân mình, tự giác thoát khỏi sự hạn chế và trói buộc vật chất tầm thường để vươn tới tương lai tươi sáng của đất nước.

Lý thuyết đổi mới không ngừng làm phong phú và sâu sắc hơn quan điểm vừa ra sức phát triển kinh tế, vừa quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, mà trong đó con người chiếm vị trí chủ thể và giữ vai trò là động lực nhằm tạo ra sự cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”. Quan điểm cơ bản này của lý thuyết đổi mới rất phù hợp với quan điểm tiến bộ của thế giới hiện đại. Bởi, sự hài hòa không chỉ là nhu cầu trong quan hệ giữa con người với con người, giữa các nước, các dân tộc với nhau mà còn là sự biểu hiện giữa con người với thiên nhiên, với cộng đồng, bảo đảm phù hợp với lợi ích cao nhất của cả dân tộc và nhân loại. Sự hài hòa này không chỉ là phương châm để giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội giữa các dân tộc trong nước với nhau và đối với các nước khác, mà còn là biện pháp để điều hòa các mối quan hệ trong sản xuất, trong quá trình khai thác, bảo vệ thiên nhiên và các loại sinh thái khác.

Lý thuyết nhân văn trong đổi mới rõ ràng đã tiên lượng, đón gặp và hội nhập với xu thế nhân văn của thời đại chúng ta.

5- Lý thuyết mở cửa và hội nhập

Thế giới hiện đại là thế giới của những mối quan hệ đan xen và phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi quốc gia là một bộ phận của thế giới đầy biến động, là một khâu trong quá trình phân công và hợp tác quốc tế. Hợp tác trong phát triển là nhu cầu sinh tồn và phát triển của toàn bộ thế giới.

Chủ nghĩa xã hội không phải là một khu vực biệt lập, một thế giới khép kín, một quốc gia xã hội chủ nghĩa, càng không phải là một ốc đảo trong thế giới ấy. Càng tách rời chủ nghĩa xã hội ra khỏi thế giới hay thậm chí đem đối lập nó với thế giới hiện đại thì càng ít thấy diện mạo và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, lý thuyết đổi mới đã đặt vấn đề mở cửa và hội nhập trở thành một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó cũng là quan điểm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục tiến hành. Nhưng mở cửa như thế nào và hội nhập ra sao? Lý thuyết đổi mới cũng đã lượng và tính những “hạn”, những “độ” cần thiết và phù hợp đối với thực tế ở nước ta. Mở cửa, đổi mới nhưng phải giữ vững nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Đa phương hóa, đa dạng hóa trong các mối quan hệ quốc tế nhưng nhất thiết không để chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nhập thông qua mở cửa nhưng không hòa tan,đánh mất chính mình trong đó. Đó là những vấn đề thuộc về nguyên tắc trong công cuộc mở cửa và hội nhập của chúng ta.

Đó cũng là nét độc đáo, phương pháp mở của lý thuyết đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Có thể nói, lý thuyết đổi mới là kết quả tất yếu của sự phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội và thực tiễn xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mấy thập niên qua trên thế giới, trong điều kiện cụ thể của nước ta. Nói như dư luận quốc tế: “Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ thực tế của chính bản thân mình, không chịu bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài và nhất là không ảo tưởng vào một mô hình sẵn có nào”(6). Lý thuyết đổi mới bao hàm một hệ thống mở, với các luận điểm luôn phát triển. Rằng: “Đường lối đổi mới trong đó kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, là con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử... mà chưa một ai đi qua”(7). Vì thế, mặt khác, việc nhận thức những đặc điểm của lý thuyết đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hoàn toàn không thể tách rời với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và trào lưu xã hội chủ nghĩa thế giới. Cùng với thời gian và sự phát triển của thế giới hiện đại, tất cả sẽ được bổ sung, điều chỉnh ngày càng phong phú và sâu sắc hơn, tiếp tục dẫn đường đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng tiến lên vững chắc.

Năm bài học lịch sử từ quá trình gần 30 năm đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Sẽ là quá sớm, vội vàng và hơn nữa chưa đủ “độ”, nếu đưa ra một dự liệu có tính tổng thể về sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bởi, xét về thời gian, 30 năm còn quá ngắn ngủi; xét về quy mô, chúng ta mới chỉ “hoàn thành chặng đường đầu của thời kỳ quá độ”, trước mắt còn ngổn ngang bao thách thức to lớn của thời kỳ mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xét về tính chất, những thành tựu đạt được mới chỉ đủ đưa nước ta “ra khỏi khủng hoảng, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc”, “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn”, và gần đây, dù rằng đã đạt được “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”,... 

Nhưng, với tất cả những bước tiến gần 30 năm qua, có thể rút ra mấy bài học kinh nghiệm sau:

Một là, xuất phát từ chính mình trên cơ sở nhận thức đầy đủ, đúng đắn về đất nước và thời đại hiện nay.

Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời từ chế độ dân chủ nhân dân, là một thực tế lịch sử. Nghĩa là, điểm xuất phát của Việt Nam còn thấp, rất xa so với yêu cầu cần phải đạt của mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đó là nét đặc thù lớn nhất của bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta.

Vả nữa, lâu nay, người ta thường quan niệm rằng, chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hòa bình, nhưng ở Việt Nam thì trái lại, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện tiến hành đồng thời với cuộc chiến tranh giải phóng. Đó là nét đặc thù thứ hai.

Mặt khác, dù trong điều kiện cả nước thống nhất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam tiếp tục tiến hành trong bối cảnh hết sức đặc biệt: vừa bị bao vây, cấm vận, vừa bị đe dọa bởi những cuộc chiến tranh trên các tuyến biên giới phía Bắc và Tây Nam... vừa tiếp tục giải quyết hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh tàn phá mấy chục năm để lại, vừa phải đương đầu với những chấn động sâu sắc và nguy hiểm của cuộc khủng hoảng, sự sụp đổ một mảng lớn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu... Trong lúc đó, thực lực của chúng ta lại luôn tiềm tàng những khó khăn to lớn, khiến cho nhiều vấn đề xem chừng như xa lạ đối với ý thức thường ngày mà “ngay cả những đảng tiên tiến, trong một thời gian tương đối dài, không thể thích ứng được với tình hình mới”. Đó là nét đặc thù thứ ba. 

Tất cả thực trạng đó, cộng với những sai lầm chủ quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đưa đất nước ta vào một giai đoạn khó khăn trầm trọng - cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở mức không thể xem thường, vào cuối những năm 70 đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Và tới thập niên 90, một trong những vấn đề cơ bản, gay cấn và nóng bỏng cấp bách đặt ra cho Đảng ta tại Đại hội VII (năm 1991): Phải đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, trên hành trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cũng đang đứng trước những vận hội mới, những thuận lợi cơ bản do những nhân tố trong nước và thế giới hiện nay tạo ra.

Việt Nam xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trong một không gian mới, đó là không gian hòa bình của thế giới rất đa dạng, phong phú, rất thuận lợi cho việc đối thoại và hợp tác, nhưng cũng hàm chứa những bất trắc có tính mất còn đối với mỗi quốc gia. Thế giới đang nổi lên những xu hướng mới: đa cực hóa trật tự thế giới, liên kết khu vực; xu hướng các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong điều kiện cùng tồn tại hòa bình; xu hướng thế giới ngày càng đi sâu vào quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nhiều mặt, nhất là về kinh tế, với sự phát triển của kinh tế tri thức đã thúc đẩy quá trình phân công mới và hợp tác quốc tế; sự phục hồi và phát triển của phong trào cộng sản ở các nước, đặc biệt là ở các nước trong không gian hậu Xô-viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Việt Nam cũng đang tồn tại và phát triển trong một bối cảnh mới của đời sống khu vực và thế giới năng động với nhịp độ khá cao, không khí hòa dịu đang bao trùm, tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định. Việt Nam tiếp tục tiến lên trong không gian mới, xu hướng mới và bối cảnh mới của quốc tế với một vị thế mới và tương quan hoàn toàn mới trong mối quan hệ với cộng đồng thế giới và khu vực.

Rõ ràng, với toàn bộ tình hình và đặc điểm đó, trên con đường đưa đất nước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng phải đối đầu với không ít nguy cơ, thách thức hết sức to lớn và nặng nề, thậm chí có ý nghĩa sinh tử: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không khắc phục kịp thời những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu, về tha hóa quyền lực trong điều kiện Đảng cầm quyền; về những “quốc nạn” khác, như ma túy, buôn lậu... có chiều hướng ngày càng gia tăng và trầm trọng; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch...

Xuất phát từ cách nhìn đó, không chủ quan, ảo tưởng, không hoang mang, dao động, nhìn ra thế giới và nghiêm túc soát xét nội lực, nắm bắt thời cơ, Đảng ta ra những quyết sách chính trị thực thi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, kiên định lập trường nguyên tắc xã hội chủ nghĩa và đổi mới sáng tạo.

Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam cũng như cải cách hay cải tổ theo ý nghĩa chân chính, đích thực của nó chính là một tất yếu, một mệnh lệnh của chủ nghĩa xã hội trên con đường phát triển. Nói cách khác, ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết cách mạng, khoa học và đúng đắn nhất, ngay từ rất sớm đã trở thành nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc của công cuộc đổi mới, mà thực chất là kiên trì sự lựa chọn con đường phát triển gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta, trên cơ sở tuân theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhưng, xử lý như thế nào mối quan hệ giữa kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh với đổi mới sáng tạo vì chủ nghĩa xã hội trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam? Việc khắc phục những yếu kém, khuyết điểm sẽ trở nên mất phương hướng, thậm chí chuốc lấy hậu quả càng nặng nề, có thể nói, trước hết tùy thuộc vào sự xử lý mối quan hệ khắc nghiệt này, mà trên thực tế nhiều nước xã hội chủ nghĩa khi tiến hành cải tổ, đã không đủ sức vượt qua.

Trước hết, kiên định chính là giữ vững, kế thừa và bảo vệ các nguyên tắc lý luận và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những nguyên tắc đã trở thành chân lý phổ biến có giá trị bền vững. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu những lĩnh vực, những vấn đề cụ thể trên cơ sở phương pháp luận và các nguyên lý mác-xít xuất phát từ thực tế đương đại. Mặt khác, phải không ngừng điều chỉnh, bổ sung và phát triển những luận điểm và dự báo từ học thuyết bởi kinh nghiệm và tri thức mới. Nhưng kế thừa, bảo vệ và phát triển không có nghĩa làm xơ cứng, triệt tiêu sức sống và làm trì trệ lý luận mác-xít, lại càng không có ý nghĩa là tùy tiện làm biến dạng nó, gò theo ý muốn chủ quan và tước bỏ ở nó vũ khí phê phán, tách rời nó khỏi mảnh đất hiện thực thời đại và điều kiện cụ thể nước ta.

Đổi mới sáng tạo phải xuất phát và dựa trên sự kiên định ấy. Tức là, đổi mới phải nhằm trở lại nhận thức một cách đúng đắn những nguyên lý của lý luận mác-xít, nhưng không giáo điều và càng không phải là xét lại, mà vận dụng nó một cách linh hoạt phù hợp với bối cảnh cụ thể của đất nước. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu, xa rời các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội được tổng kết từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà xuất phát từ những quan niệm mác-xít để hành động một cách đúng đắn theo mục tiêu ấy, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Dư luận quốc tế xác nhận: “Việt Nam đang thực hiện một quá trình đổi mới đầy sáng tạo nhằm đưa chủ nghĩa xã hội thích nghi với hoàn cảnh mới, với điều kiện lịch sử và bối cảnh quốc tế mới. Những thành tựu to lớn của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới nhưng vẫn giữ được những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội...”(8). Nói một cách hình ảnh, đổi mới sáng tạo chính là một tiến trình thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên mảnh đất hiện thực Việt Nam một cách phù hợp và hiệu quả, chứ không phải là giáo điều, rập khuôn, hay thực dụng và cơ hội.

Đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng của Đảng ta. Ngay từ năm 1936, Đảng đã ý thức rõ rằng: “Những người cộng sản Đông Dương là tay hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, và thực hành chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo điều kiện hiện thực ở Đông Dương... Chiến sách mới của Đảng là chiến sách theo điều kiện hiện thực ở xứ Đông Dương, theo kinh nghiệm tranh đấu của Đảng, học kinh nghiệm của Quốc tế Cộng sản và kinh nghiệm của cuộc vận động cộng sản thế giới, không phải là đem kinh nghiệm xứ này sang xứ khác một cách như máy”(9). Và sau 5 năm đổi mới, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê-nin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách sáng tạo”(10). Không thể có đổi mới sáng tạo nếu không xuất phát từ sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Và đến lượt nó, sự kiên định sẽ trở nên mất ý nghĩa, rơi vào chung chung, trừu tượng nếu không có sự đổi mới cụ thể và sáng tạo. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay chính là kết quả, là sự thể hiện sinh động và thuyết phục về sự kết hợp những phẩm chất đó. 

Đó cũng chính là nguồn gốc, là cơ sở để Việt Nam từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. 

Ba là, mục tiêu, hướng đi chỉ có một, nhưng hình thức, bước đi phải đa dạng và biện pháp phải phong phú, cụ thể; và Nhân dân là mục tiêu, là chủ thể, là động lực của công cuộc đổi mới.

Khởi nguyên từ sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã hoạch định ngày càng rõ ràng đường lối đổi mới đúng đắn, xuất phát từ thực tiễn đất nước, trên cơ sở đó xác lập những nét chủ yếu quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nói cách khác, nhờ độc lập sáng tạo trong đường lối đổi mới và kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tham khảo một cách chọn lọc kinh nghiệm của các nước, Việt Nam đã tìm thấy hướng vượt qua những thử thách hiểm nghèo, đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang bước phát triển mới. Xét về mặt phương pháp luận, hệ thống tồn tại và thay đổi dần tới trạng thái cuối cùng của hệ thống cũ là hệ thống mới. Nó biến đổi nhưng không đứt đoạn, rời rạc; biến chất, nhưng là kết quả của một quá trình liên tục. Đó là biện chứng của sự phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng ta “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa chứ không “bò qua”, càng không “bay qua”. Chính vì vậy, các giải pháp đổi mới ở Việt Nam thể hiện rõ nét đặc điểm Việt Nam, mang tính hệ thống khá chặt chẽ, phù hợp và hiệu quả với một trật tự, hình thức, bước đi và biện pháp giải quyết không chủ quan, nóng vội, nhưng cũng không do dự, cầu toàn. Phương thức này là tất yếu cho sự phát triển chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì thực thi.

Trước hết, Việt Nam đã tạo dựng được một môi trường ổn định, nhất là về chính trị, xã hội để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trung tâm là xây dựng kinh tế, nắm chắc khâu then chốt là không ngừng chỉnh đốn và đổi mới Đảng nhằm khắc phục tình trạng tụt hậu xa hơn về kinh tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc. Văn hóa được coi là một mục tiêu, một động lực phát triển xã hội, đặt giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đặng phát triển đất nước,... như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp chứ không chỉ là đường lối”, là có mục đích và cách làm.

Và cứ như thế, qua mỗi giai đoạn, ở từng chặng đường, trên mỗi phương diện, Việt Nam đã chủ động, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, học hỏi và tìm tòi sáng tạo, bổ sung, điều chỉnh kịp thời, bảo đảm đất nước phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Càng ở vào những thời điểm khó khăn nhất, càng độc lập sáng tạo và càng bám sát cuộc sống sinh động, phức tạp của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, càng trân trọng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân, từ cơ sở và lấy đó làm cơ sở cho việc tìm tòi, hoạch định đúng đắn lộ trình, những hình thức, phương pháp, bước đi của công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, thì càng nhiều cơ hội tìm thấy hướng đi đúng cho những vấn đề phức tạp. Hợp quy luật và hợp lòng dân, đó là phương châm quán xuyến tất cả những quyết sách chính trị và tổ chức thực tiễn đổi mới của Đảng ta. 

Nhìn lại quá trình gần 30 năm đổi mới, đặc biệt là chặng đường đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vừa qua càng không thể không ghi nhận việc kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, sử dụng một cách chọn lọc mọi thành tựu và kinh nghiệm của thế giới đã trở thành một nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng. Đổi mới, đó là kết quả tự nhiên và tất yếu của sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự đòi hỏi cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước trên cơ sở những di sản truyền thống quý giá của dân tộc, phù hợp với xu thế đi lên của thời đại. Trên thực tế, đổi mới phải trên cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà rường cột là tinh thần đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân lên sức mạnh nội sinh dân tộc và những thành tựu mà cách mạng đã đạt được. Mặt khác, coi trọng tiếp thu, sử dụng phù hợp những thành tựu và kinh nghiệm của thời đại, thậm chí phải hành động với ý thức rất rõ rằng, học tập và vận dụng các hình thức kinh tế, các phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa là những “bước lùi” tất yếu, để đẩy tới công cuộc đổi mới đất nước. Ở đây, Việt Nam đã nỗ lực phát huy tinh thần độc lập sáng tạo, lường tránh hai khuynh hướng rập khuôn giáo điều và thực dụng trên phương diện này, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, giữ vững độc lập, tự chủ và tích cực chủ động hội nhập quốc tế hiệu quả là động lực quan trọng góp phần đưa Việt Nam vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội không phải là một thế giới tồn tại biệt lập, khép kín. Một đất nước phồn thịnh và phát triển thì không thể đóng cửa, khép kín. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam không chỉ xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, mà còn là sự đáp lại yêu cầu và phù hợp với sự thúc bách của thời đại. Cho nên, việc mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại, hội nhập với thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập và phát triển đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ, giữ vững bản sắc và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc trở nên như một tất yếu đẩy tới công cuộc đổi mới. Sức mạnh nội sinh của đất nước sẽ trở nên nhỏ bé, cục bộ và khiếm khuyết nếu thiếu sự bổ sung, hoàn chỉnh có tính tổng lực bởi sức mạnh thời đại. Nhưng, nếu không có sức mạnh của độc lập dân tộc, tự chủ thì khó có thể có sự hội nhập với cộng đồng quốc tế một cách đúng hướng và hiệu quả; và ngược lại, để hội nhập một cách chủ động, không để đánh mất mình hay hòa tan mình vào công cuộc hội nhập quốc tế và để giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường.

Chính từ nhận thức rõ và chuẩn bị điều kiện để hành động như vậy, nên nhiều thập niên qua, nhất là gần 30 năm đổi mới, từ hội nhập kinh tế quốc tế tiến tới hội nhập quốc tế, từ mong muốn làm bạn tới sẵng sàng làm bạn, từ chủ động tới tích cực, chủ động… chúng ta đã không ngừng mở rộng quan hệ ngoại giao với trên 180 nước trên thế giới trên nhiều mặt chính trị, kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, cấm vận, cải thiện quan hệ quốc tế, tham gia chủ động và tích cực vào đời sống của cộng đồng nhân loại, nâng cao vị trí của đất nước trên trường thế giới, tạo đà thuận lợi cho công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Chính từ đây, Việt Nam nhìn thấy rõ hơn vị thế của đất nước, tiên liệu đúng đắn những bước đi, những biện pháp nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới.

Và qua đây, đã cho thấy một cách thuyết phục nguyên tắc độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng luôn tiềm tàng những thời cơ và những nguy cơ của thế giới hôm nay.

Năm là, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh bao hàm việc giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nói cách khác, giữ vững và nâng cao sự lãnh đạo của Đảng là một biểu hiện cơ bản nhất, nổi bật nhất và tập trung nhất của sự kiên định với các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chính là một tất yếu lịch sử, một đòi hỏi cấp bách có ý nghĩa quyết định sự tồn vong của đất nước ta trong thời đại ngày nay.

Nhìn lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là quá trình khắc phục cuộc khủng hoảng vừa qua, càng thấy nổi bật lên sự khẳng định đầy thuyết phục: giữ vững, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với đất nước, dân tộc và chế độ - một bảo đảm cơ bản cho những thắng lợi. Sở dĩ phải nhấn mạnh và khắc sâu nhiệm vụ đó để thấy rằng, các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội luôn âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng, phá hoại sự đoàn kết thống nhất của Đảng từ bên trong, làm cho Đảng suy yếu, tan rã. Họ luôn đòi Đảng ta thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, mưu toan tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng chính là mưu đồ đưa đất nước, dân tộc và chế độ ta vào thảm họa diệt vong bắt đầu từ việc lật đổ Đảng. Bài học xương máu từ sự sụp đổ của các quốc gia xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô vừa qua đã cho thấy rõ các thủ đoạn “mềm” và “hiểm” đó.

Việc khẳng định vị trí, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là vấn đề thuộc về nguyên tắc của lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kết luận được rút ra từ yêu cầu bức bách của lịch sử, từ tình cảm và lý trí sáng suốt của nhân dân ta. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở chỗ khẳng định, thừa nhận không thôi thì hoàn toàn chưa đủ. Cho nên, vấn đề giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, trở thành quy luật, là vấn đề then chốt của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chính bởi vậy, Đảng ta luôn nỗ lực rèn luyện bản lĩnh chính trị, học tập toàn diện kiến thức, tự phê phán nghiêm khắc những mặt non kém; đồng thời, lường trước, nhận diện và đẩy lùi những nguy cơ làm cho Đảng đánh mất vị trí, vai trò lãnh đạo của mình. Việt Nam sẽ không thể đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, trước mắt không thể vượt qua cuộc khủng hoảng mà đất nước đã từng lâm vào, nếu Đảng không tự vươn lên, tự đổi mới và chỉnh đốn mình nhằm ngăn chặn những mầm họa khủng hoảng từ trong Đảng: lợi ích nhóm, dấu hiệu sự phân hóa trong Đảng, nguy cơ xa rời cơ sở chính trị - xã hội, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ trọng trách... Trên thực tế, quan niệm đó đã biến thành hành động một cách chủ động, thận trọng và hiệu quả trong toàn Đảng. Đảng ta đã và đang tiếp tục tìm tòi những câu trả lời một cách nghiêm túc, đầy trách nhiệm trước lịch sử và trước nhân dân, dẫn dắt đất nước từng bước vượt qua khó khăn, thử thách, tự tin và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

                                             *

                                         *      *

Từ những kiến giải trên đây và từ tất cả những gì đã làm được hoặc chưa làm được trong hơn 69 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, dưới ngọn cờ của Đảng, nhất là gần 30 năm đổi mới vừa qua, dù còn không ít khó khăn nan giải, những chệch choạc ở lĩnh vực này hay phương diện khác, những mâu thuẫn to lớn đang đòi hỏi cần phải giải quyết một cách phù hợp và hiệu quả, rõ ràng chúng ta đã tạo được những tiền đề cơ bản và quan trọng về lý luận và thực tiễn để đất nước tiếp tục tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại 25 năm công cuộc đổi mới ở Việt Nam, dư luận quốc tế đánh giá: “Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Việt Nam đã khiến quốc gia này thành nước có sức ảnh hưởng lớn nhất tại bán đảo Đông Dương. Về đối ngoại, gây được tiếng vang với thế giới... Khác với các nước Đông Nam Á khác, bên cạnh những thành tựu kinh tế, Việt Nam vẫn chú trọng tới lĩnh vực xã hội và bảo vệ nhân dân với những chính sách cụ thể. Chính điều này đã giúp cho Hà Nội đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua tốt hơn nhiều so với những “con hổ châu Á” khác”(11); “Các đồng chí cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đạt được những thành tích to lớn về mọi mặt”(12).

Vì, qua gần 30 năm, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang những nét đặc thù nhưng giữ vững bản chất chung thống nhất của chủ nghĩa xã hội, phát triển thông qua việc thực hiện các vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, với lộ trình tổng thể, gồm rất nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ sinh động, cụ thể; và qua đó, càng làm nổi bật hơn các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, làm khả thi hơn các phương thức thực thi mục tiêu sống động của chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình của đất nước và xu thế phát triển của thời đại hiện nay.

Đó là phương hướng Việt Nam đã đi gần 30 năm qua, đang đi và tiếp tục sẽ đi, không thể gì đảo ngược./.

---------------------------------------------

(1) Lời chào mừng Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 23

(2) A. Li-lốp: “Việt Nam biểu tượng của thế kỷ XX”, báo Nhân Dân, số ra ngày 20-9-2000, tr. 5

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, Hà Nội, t. 1, tr. 35

(4) Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 1, tr. 203

(5) Lời chào mừng Đại hội VIII đã dẫn, tr. 100

(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 1, tr. 465

(6) A. V. I-va-nô-vích: “Minh chứng hùng hồn của chính sách đổi mới đúng đắn”, báo Nhân Dân, số ra ngày 20-9-2000, tr. 5

(7) Lời chào mừng Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 53

(8) Z. B. Ca-rê-ra: “Thắng lợi của Việt Nam là thắng lợi của cả loài người”, báo Nhân Dân, số ra ngày 26-9-2000, tr. 3

(9) Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr. 157 - 158

(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127

(11) http://www.tinmoi.vn/Du-luan-quoc-te-dua-dam-tin-ve-Dai-hoi-Dang-Viet-Nam, ngày 13-1-2011

(12) http://ww.cpv.org.vn/CPV/Modules: Dư luận quốc tế về Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 12-1-2011

Nhị LêPhó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
 
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: